Bài viết

Bài viết của tác giả Đỗ Xuân Cẩm

Cây thuốc tên mèo

Được gửi lúc March 14, 2011 | Bởi : | Mục : Bài viết,Cây xanh xứ Huế,Khoa học kỹ thuật,Tổng hợp | 0 Bình luận

Xuân Tân Mão nói chuyện cây thuốc tên mèo

Đỗ Xuân Cẩm

Xưa nay nhiều người Á Đông, trong đó có Việt Nam, thường tính tuổi của mình theo 10 Thiên cang (Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỹ, Canh, Tân, Nhâm, Quý) và 12 Địa chi (Tý, Sữu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi) được gọi là mười hai con giáp.

Đa số người Việt chúng ta rất quan tâm đến tuổi tác, làm việc gì cũng đi coi thầy, đoán quẻ. Từ xây nhà, mở quán, đi thi… cho đến cưới xin, đều lấy tuổi tác để chọn ngày lành tháng tốt, thích hợp với từng công việc. Có lẽ vì thế, ngoài việc mô phỏng một số đặc điểm của những vật nuôi trong nhà để đặt tên cây cỏ chung quanh môi trường sống như mào gà, cẳng gà, ruột gà, mề gà, đuôi gà, chân vịt, mỏ vịt, chân chim…, người Việt còn đặt tên cây cỏ theo các đặc điểm của nhiều con vật trong mười hai con giáp.

Trong số mười hai con giáp, “Mão” được người Trung Quốc quan niệm là thỏ, còn người Việt chúng ta quan niệm là mèo, là loài vật nuôi phổ biến trong nhà, lắm khi nó đã trở thành người bạn thân thương không thể thiếu được của một số gia đình. Trong kho tàng cây cỏ Việt Nam, có khá nhiều loài cây mang tên mèo, và trong số đó có nhiều loài được sử dụng để trị bệnh cho người và gia súc. Để góp phần vào niềm vui tống cựu “Canh Dần” nghinh tân “Tân Mão”, góp thêm chút hương vị đầu xuân khi quý vị vừa đón xuân vừa đọc báo, tôi sưu tầm, biên tập ngắn gọn để giới thiệu cùng quý độc giả một số cây dược liệu mang tên mèo.

1. Cây chàm mèo, tên khoa học Strobilanthes flaccidifolius Nees, thuộc họ Ô rô – Acanthaceae.

Cây đa niên, cao từ 50 – 100 cm, thân nhẵn, phân nhiều cành, các mấu phình to lên. Lá mọc đối, phiến lá hình bầu dục, thon dài 10 – 12 cm, mép khía răng. Hoa mọc thành bông màu lam tím, phía trên loe ra có 5 thùy. Quả nang dài.

Thường được dùng chữa cảm nhiễm độc tà, sốt cao, khát nước, đầu mình đau nhức, kém ăn, rêu lưỡi vàng nhợtviêm họng, ban sởi, loét miệng, mẩn ngứa.

2. Cây gai mèo, lanh mèo, gai đầu, tên khoa học Cannabis sativa L.subsp. sativa thuộc họ Gai đầu – Cannabaceae.

Cây thân thảo hằng niên cao 1-3 m; thân vuông có rãnh dọc, phủ lông mềm, sù sì. Lá thường mọc so le, có cuống, có lá kèm, có phiến xẻ đến tận gốc thành 5-7 lá chét hẹp, hình ngọn giáo, nhọn, có răng cưa. Hoa đơn tính khác gốc, hoa đực xếp thành chùm xim kép ở nách và ở ngọn, các hoa cái xếp thành xim hay xim co. Quả bế dạng trứng, dẹp, có mũi nhọn ở đầu. Hạt chứa nhiều dầu.

Thường được dùng trị huyết hư, táo bón.


3. Cây lưỡi mèo tai chuột, tên khoa học Pyrrosia lanceolata (L.) Farw., họ Ráng – Polypodiaceae.

Là loài dương xỉ phụ sinh, có thân rễ nhỏ mọc bò dài mang vảy màu nâu nhạt hay hơi trắng. Có 2 loại lá, lá dinh dưỡng màu lục, hình dạng như tai chuột, lá sinh sản hình dải trông như lưỡi mèo, mặt dưới mang các túi bào tử màu nâu.

Cây mọc phổ biến khắp các miền sinh thái, thường bám trên vỏ cây gỗ, trên các vách đá, bờ tường, mái nhà ngói rêu phong.

Thường được dùng chữa viêm tuyến nước bọt mang tai, bệnh đường tiết niệu.

  Ảnh: Internet

4. Cây mắt mèo, móc mèo, đậu mèo rừng, đậu ngứa, tên khoa học  Mucuna pruriens (L.) DC., thuộc họ Đậu – Fabaceae.

Cây thảo leo hằng niên; thân có lông nằm. Lá dài 25 cm; lá chét hình xoan dạng bánh bò, có lông trắng ở mặt dưới. Hoa kết thành chùm thòng từ nách lá, dài 30 cm; hoa tím sẫm, dài 4-5 cm, có lông nằm; đài có lông tơ hoe. Trái hình chữ S, to 5-8 x 1,2 cm, đầy lông hoe to, ngứa; hạt 4-5, hơi dẹp, to 8-10 mm, nâu có vân đen.

Dân gian thường dùng hạt đắp hút nọc độc do rắn cắn. Ở Ấn Độ hạt được dùng trục giun đũa, ở Lào rễ được dùng làm thuốc.

  Ảnh: internet

5. Cây móc mèo, tên khoa học Caesalpinia bonduc (L.) Roxb. (C. bonducella), thuộc họ Vang – Caesalpiniaceae

Cây nhỡ leo, có cành màu xám, có lông tơ, có gai. Lá kép lông chim 2 lần, 3-9 đôi lá chét, cấp một, 12-24 đôi lá chét cấp hai, mọc đối, nhiều lông vàng lúc non, lá chét trên cùng lớn hơn cả; gân 8-10 đôi. Chùm hoa ở trên nách lá, dài 12-20 cm, có lông mềm, có gai; lá bắc hình dải 6-12 mm, cuống hoa 4-6 mm; nụ có lông mềm; đài có lôngkhông đều nhau; cánh hoa vàng, không đều; chỉ nhị có lông; bầu có cuống. Quả hình bầu dục dài 5-8 cm, rộng 4 cm, phủ gai đứng, cao 7-9 mm. Hạt 1-2, to 2 cm, xanh mắt mèo có đốm sẫm.

Hạt được dùng làm thuốc chữa bệnh sốt cơn và làm thuốc bổ. Ở Malaysia, lá được hãm uống trị san xơ mít. Ở Thái Lan, lá được dùng làm vị thuốc lợi trung tiện, rễ dùng làm thuốc gây toát mồ hôi và chữa hóc xương.

Ảnh: internet

6. Cây móc mèo xanh, tên khoa học Caesalpinia digyma Rottl., thuộc họ Vang – Caesalpiniaceae

Cây thân gỗ nhỡ, phân cành nhiều, nhánh nhẵn, có gai. Lá kèm hình dải thành mũi dài, khoảng 2 mm, dễ rụng. Lá có lông mềm, dài 15-20 cm, phiến kép lông chim 8-12 đôi có cuống dài 2-5 cm, lá chét 8-12 đôi không cuống, cụt nghiêng ở gốc, tròn hay hơi lõm ở chóp, dài 8-12 mm, rộng 3-4 mm, màu lục ở mặt trên, trắng ở mặt dưới, hơi có lông mềm. Hoa vàng, kết thành chùm gần nách lá, tập hợp ở các ngọn nhánh; nụ hoa hình cầu. Quả hơi nạc, nhẵn, có mép dày, dài 25-50 mm, rộng 25 mm. Hạt 2-3 đen, hình trứng.

Thường được dùng làm bột duốc cá. Ở Lào, thân cây được dùng làm thuốc chữa bệnh mắt vàng. Ở Ấn Độ, rễ được dùng trị bệnh lao phổi, tràng nhạc và bệnh đái đường.

7. Cây râu mèo, tên khoa học Orthosiphon spiralis (Lour.) Merr., thuộc họ Hoa môi – Lamiaceae.

Cây thảo đa niên, cao khoảng 0,5-1 m. Thân vuông, thường có màu nâu tím. Lá mọc dối, có cuống ngắn, chóp nhọn, mép khía răng to. Hoa xếp thành chùm xim co ở ngọn thân và đầu cành. Hoa màu trắng sau ngả sang xanh tím. Nhị và nhụy thò ra ngoài, trông như râu mèo.

Thường được dùng trị viêm thấp cấp và mạn, thấp khớp, viêm bàng quang, sỏi đường niệu.

  Ảnh: internet

8. Cây tai mèo, bất thực, tên khoa học Abroma angusta (L.) Willd. Thuộc họ Trôm – Sterculiaceae

Cây thân gỗ nhỏ, cao 1-3 m. Lá đa dạng, phiến xoan, trái tim, phân thùy hay nguyên, thường có răng, hơi có lông nhung, dài 10-12 cm, rộng 4-25 cm. Hoa màu tím, mọc ở nách lá hay đầu ngọn cành. Quả nang dạng màng, đỉnh cụt, 5 múi có cánh.

Vỏ thường được dùng để chữa chứng bại liệt, bệnh lậu và điều kinh. Ở Trung Quốc, rễ và lá được dùng làm thuốc trị đòn ngã gãy xương, kinh nguyệt không đều và mụn nhọt sưng đỏ. Ở Ấn Độ, vỏ rễ được dùng trị đau bụng kinh và dùng điều kinh dạng sung huyết, lá được dùng hãm uống trị bệnh lậu.

  Ảnh: Đỗ Xuân Cẩm

9. Nấm mèo, nấm tai mèo, nấm mộc nhĩ, tên khoa học Auricularia auricula (L.) Underw, thuộc họ Mộc nhĩ – Auriculariaceae

Mũ nấm (thể quả) dạng tai mèo có mặt trên nhẵn hay có phủ lông nâu, mặt dưới nhẵn hay nhăn nheo, phủ lớp phấn trắng khi tai nấm trưởng thành (do bào tử phóng ra)

Thường được dùng chữa suy nhược toàn thân, thiếu máu, ho; trị xuất huyết, chảy máu cam, huyết áp cao, táo bón. Ngoài ra còn được dùng chữa chứng nhiệt ly, trĩ, đau răng.

  Ảnh: internet

10. Nấm mèo lông, nấm tai mèo lông, tên khoa học là Auricularia polytricha, thuộc họ Mộc nhĩ – Auriculariaceae

Mũ nấm dạng tai mèo, mép hơi cuộn vào lúc còn non, lúc già thì phẳng ra. Lúc non, mặt nấm có màu nâu hoặc nâu tím, sau chuyển sang màu hồng, rồi nhạt dần khi tai nấm già. Mặt mủ phủ lông thô, màu trắng, có thể nhìn thấy rõ bằng mắt thường.

Thường được dùng chữa bệnh trĩ, tiểu buốt, kiết lỵ, băng huyết, rong huyết, táo bón.

Ngoài ra, còn nhiều cây cỏ có tên gọi gắn với chữ mèo chưa được nghiên cứu sử dụng theo hướng bảo vệ sức khỏe như lép mèo (Caesalpinia hymenocarpa), lưỡi mèo (Sansevieria trifasciata var. hahnii), miêu nhĩ (Hypocheris radicata), móng mèo (Uncaria tomentosa), Vuốt mèo (Nepeta cataria)…



style=”display:inline-block;width:728px;height:90px”
data-ad-client=”ca-pub-5111203480736952″
data-ad-slot=”3194246200″>

Thông tin admin

Gửi lời bình


+ 8 = ten